Trong Y học cổ truyền, gan được xem là cơ quan giữ vai trò quan trọng trong việc chủ sơ tiết, tức điều hòa sự lưu thông khí cơ trong toàn thân, đồng thời có chức năng tàng huyết, duy trì sự cân bằng của máu. Gan khỏe mạnh giúp tinh thần thư thái, tiêu hóa thuận lợi, cơ thể dẻo dai. Ngược lại, khi gan mất điều hòa, khí huyết uất trệ, con người dễ rơi vào tình trạng cáu gắt, mệt mỏi, ăn uống kém. Ngày nay, do chế độ ăn uống nhiều dầu mỡ, áp lực công việc, cùng các yếu tố môi trường ô nhiễm, tình trạng “nóng gan” trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Người bệnh thường xuất hiện các triệu chứng như nổi mụn nhọt, vàng da, rối loạn tiêu hóa, men gan tăng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn làm suy giảm chất lượng cuộc sống.
Lưu trữ danh mục: Thảo dược
Trong kho tàng y học cổ truyền, có nhiều dược liệu đã được sử dụng hàng trăm năm để điều trị các rối loạn liên quan đến thần – tâm – chí. Một số vị có tác dụng an thần nhẹ nhàng, một số đi sâu vào điều hòa Tâm – Can – Tỳ – Thận, và một số giúp cố thần, giữ giấc ngủ bền lâu.
Bạch Phục Linh (白茯苓) là phần nấm ký sinh trên rễ cây thông (Poria cocos), sau khi loại bỏ vỏ đen và lõi gỗ sẽ cho phần “bạch” – trắng, sạch và có tính trung bình, vị ngọt nhạt. Trong Đông Y, Bạch Phục Linh là vị thuốc nổi bật trong nhóm lợi thấp – kiện tỳ – an thần, thường dùng cho người phù nề, tiểu ít, tiêu hóa kém, tâm phiền, mất ngủ nhẹ do tỳ hư.
Bạch Cập (白及) là rễ củ của cây thuộc họ Lan (Orchidaceae), nổi bật với công năng thu liễm chỉ huyết, tiêu viêm, sinh cơ liền sẹo. Trong Đông Y, Bạch Cập thường dùng để trị ho ra máu, chảy máu cam, loét miệng, tổn thương niêm mạc, vết thương lâu liền. Ngoài ra, còn có tác dụng giảm viêm sưng và ức chế tăng sinh u lành.
Hồng Sâm (红参) là rễ củ của cây Nhân Sâm (Panax ginseng) đã được hấp chín rồi phơi khô, tạo thành loại sâm có màu đỏ sẫm đặc trưng. So với Nhân Sâm tươi, Hồng Sâm có tính ôn, tác dụng bổ dương khí mạnh hơn, thường được dùng trong các trường hợp nguyên khí suy kiệt, mệt mỏi kéo dài, ho lao, tiểu đường do khí hư, người lớn tuổi hư nhược sau bệnh.
Hà Thủ Ô (何首乌) là rễ củ của cây dây leo thuộc họ Rau răm, được biết đến từ lâu đời như một vị thuốc quý giúp bổ Can Thận, dưỡng huyết sinh tinh, làm đen tóc, cường gân cốt. Tùy theo mục đích sử dụng, Hà Thủ Ô có thể dùng sống hoặc chế biến – mỗi dạng có tác dụng riêng.
Phụ Tử (附子) là rễ con của cây Ô đầu (Aconitum carmichaeli), sau khi được chế biến loại bỏ độc tính sẽ trở thành Chế Phụ Tử – một vị thuốc cực dương, ôn nhiệt mạnh, dùng để hồi dương cứu nghịch, ôn trung trừ hàn, trợ dương cường thận, giảm đau. Đây là “vua của các vị ôn dương”, thường có mặt trong các bài thuốc trị suy nhược nặng, chân tay lạnh, mạch trầm vi, tiêu chảy do tỳ thận dương hư.
Ba Kích (巴戟天) là rễ của cây Ba kích tím, nổi tiếng từ lâu đời trong Đông y với công dụng bổ Thận dương, tráng gân cốt, hỗ trợ sinh lý nam nữ, trị liệt dương – hoạt tinh – tử cung lạnh. Đây là vị thuốc đặc trưng của các bài thuốc bổ dương, ôn Thận, rất phù hợp cho người lưng gối lạnh đau, sinh lý suy yếu, tiểu nhiều về đêm, người lớn tuổi hư nhược.
Dâm Dương Hoắc (淫羊藿) là một trong những vị thuốc bổ Thận Dương trứ danh của Đông Y, thường được sử dụng trong các chứng sinh lý yếu, lưng gối lạnh đau, tiểu đêm nhiều, vô sinh hiếm muộn, suy nhược sau bệnh. Đây là vị thuốc ấm – cay – ngọt, quy vào Can, Thận, dùng rất phổ biến trong các bài thuốc tráng dương – kiện cốt – tăng cường sinh lực.
Đại Táo (大枣) là quả chín phơi khô của cây táo ta, có vị ngọt, tính ôn, từ lâu đã được xem là vị thuốc bổ khí dưỡng huyết phổ biến, thường xuất hiện trong hầu hết các bài thuốc cổ phương. Không chỉ có tác dụng riêng, Đại Táo còn được dùng để hòa hoãn – điều hòa tác dụng các vị thuốc khác, giúp bảo vệ tỳ vị, làm dịu tính công phá của thuốc hàn – nhiệt – tả hạ.











