Xuyên Bối Mẫu (川贝母) là phần thân hành của cây Bối Mẫu sinh trưởng tại các vùng núi cao ở Tứ Xuyên (Trung Quốc), thường được dùng làm thuốc thanh phế, hóa đàm, chỉ khái, tán kết. Đây là vị thuốc quý trong các bài thuốc trị ho lâu ngày, ho khan có đàm đặc, ho phế nhiệt hoặc uất đàm.
Lưu trữ tác giả: admin
Ngải Diệp (艾叶) là lá cây ngải cứu – một trong những vị thuốc dân gian và Đông y quen thuộc nhất. Với đặc tính ấm, thơm, đi vào khí huyết và can – tỳ – thận, Ngải Diệp có công năng ôn kinh chỉ huyết, tán hàn, an thai, trừ thấp và giảm đau. Đặc biệt, đây là vị thuốc quan trọng trong cứu châm và trị liệu vùng bụng, tử cung.
Phục Linh (茯苓) là phần nấm mọc ký sinh trên rễ cây thông (Poria cocos), đã được sử dụng trong Đông Y hàng nghìn năm với công dụng lợi thủy thẩm thấp, kiện tỳ, an thần và cường tâm. Đây là vị thuốc trung tính, không quá hàn hay nhiệt, dùng lâu không hại chính khí, rất phù hợp với người cơ địa hư nhược, tỳ hư thấp trệ, tiểu tiện bất lợi, tim đập nhanh, mất ngủ nhẹ.
Xuyên Tiêu (川椒) là vỏ quả đã phơi khô của cây Tiêu rừng (Zanthoxylum bungeanum), có mùi thơm cay đặc trưng, vị tê nhẹ. Là vị thuốc cay, ôn, vào kinh Tỳ – Vị – Thận, Xuyên Tiêu được dùng chủ yếu để ôn trung, tán hàn, chỉ thống, sát trùng và tiêu tích.
Sa Nhân (砂仁) là quả chín phơi khô của một số loài thực vật họ Gừng, thường được dùng trong Đông y với công dụng hành khí kiện tỳ, hóa thấp, chỉ tả và an thai. Đây là vị thuốc vừa bổ vừa hành, thường dùng cho những người có biểu hiện tỳ vị hư yếu, đầy bụng, tiêu hóa kém, tiêu chảy do lạnh bụng, động thai do khí trệ hoặc hư hàn.
Trần Bì (陈皮) là vỏ quýt chín đã phơi hoặc sấy khô để lâu năm, càng để lâu càng tăng dược tính. Là vị thuốc nổi bật trong các nhóm lý khí, kiện tỳ, hóa đàm, Trần Bì thường được dùng trong các chứng đầy bụng, ăn uống khó tiêu, ho nhiều đờm, nôn mửa, tiêu chảy mạn, đau bụng do khí trệ…
Tô Ngạnh (苏梗) là cành của cây Tô (Tía tô) – khác với Tô Diệp (lá Tía tô) và Tô Tử (hạt Tía tô). Trong Đông Y, Tô Ngạnh được sử dụng với tác dụng chính là lý khí, hành khí, giảm đau, an thai và điều trị khí trệ ở vùng ngực – bụng.
Đan Sâm (丹参) là vị thuốc nổi bật trong nhóm hoạt huyết, hóa ứ, đồng thời có tác dụng bổ huyết, dưỡng tâm, an thần. Thường được dùng trong điều trị các chứng đau do huyết ứ, rối loạn kinh nguyệt, mất ngủ, hồi hộp, bứt rứt do khí huyết không điều hòa, Đan Sâm là vị thuốc quan trọng trong điều trị bệnh tim mạch, phụ khoa và tâm thần nhẹ theo Đông y.
Hương Phụ (香附) là vị thuốc nổi bật với tác dụng sơ can lý khí, điều kinh, giải uất, giảm đau, thường được dùng trong các chứng rối loạn kinh nguyệt, đau bụng kinh, ngực sườn đầy tức, trầm uất, khí trệ – đặc biệt ở phụ nữ.
Tri Mẫu (知母) là một vị thuốc thanh nhiệt, tư âm, giáng hỏa, thường dùng trong các chứng nhiệt gây âm hư, sốt về chiều, gò má đỏ, miệng khô họng khát, táo bón, tiểu gắt, đau lưng mỏi gối… Đặc biệt, đây là vị thuốc quan trọng trong bổ âm mà không gây nhiệt, thích hợp cho người bị âm hư hỏa vượng.











